Chọn bơm trục ngang bắt đầu từ điểm làm việc, không bắt đầu từ công suất. Với CM50-200/11, dải làm việc là 24 – 72 m³/h và 51 – 32 m.
Nội dung phía dưới đi từ thông số thật tới cách lắp đặt, bảo trì và những lỗi hay gặp khi đưa máy vào vận hành.
Khi một bơm không đủ
Ghép song song: lưu lượng cộng lại, cột áp giữ quanh dải 51 – 32 m. Ghép nối tiếp: cột áp cộng lại, lưu lượng giữ quanh dải 24 – 72 m³/h.
Chọn kiểu ghép theo thứ đang thiếu; ghép sai kiểu là tốn thêm một máy mà không giải quyết được gì.
Bốn lỗi khiến máy hỏng sớm
- Lấy lưu lượng lớn nhất và cột áp lớn nhất trong dải 24 – 72 m³/h – 51 – 32 m cùng lúc.
- Thu nhỏ ống hút so với họng hút.
- Chạy khô vì quên mồi nước.
- Bỏ bảo vệ mất pha cho động cơ 11 kW.
- Nhầm dải: 24 – 72 m³/h và 51 – 32 m ghép cặp ngược chiều nhau.
- Nhầm nguồn: bảng ghi 3 pha / 380V / 50Hz, phải chuẩn bị trước.
- Nhầm vị trí: máy đặt cạn phải mồi nước và giới hạn chiều cao hút.
Đấu điện đúng cho CM50-200/11
Chiều quay của bơm trục ngang phải đúng dấu mũi tên trên vỏ. Quay ngược vẫn đẩy được ít nước nên rất dễ bị bỏ qua, nhưng lưu lượng tụt sâu dưới dải 24 – 72 m³/h.
Đảo hai trong ba dây pha là đổi được chiều quay.
Trước lần chạy đầu, quay thử trục bằng tay để chắc chắn không kẹt, rồi mồi nước đầy buồng bơm, sau đó mới cấp điện 3 pha / 380V / 50Hz.
Chạy khô vài giây là đủ làm cháy phớt cơ khí của CM50-200/11.
Cột hút — giới hạn ít ai để ý
Hiện tượng phổ biến: máy chạy êm, dòng điện thấp hơn bình thường, nhưng không ra nước. Đó là dấu hiệu buồng bơm còn khí.
Kiểm tra theo thứ tự: van chân, độ kín các mối nối ống hút, rồi mới tới cụm cánh của CM50-200/11.
Ống hút nên ngắn, thẳng và có đường kính bằng hoặc lớn hơn họng hút. Thu nhỏ ống hút để tiết kiệm vật tư là cách nhanh nhất làm bơm mất khả năng tự hút.
Với CM50-200/11, cỡ họng ghi trên bảng là 50 / 65 mm.
Ống hút, ống đẩy và phụ kiện
- Ống hút: ngắn, thẳng, kín, có rọ và van chân.
- Ống đẩy: van một chiều rồi tới van chặn.
- Đoạn nối mềm ở cả hai phía để triệt rung.
- Đồng hồ áp trên ống đẩy để theo dõi điểm làm việc.
Đồng hồ áp trên ống đẩy là công cụ chẩn đoán ít tốn kém. Áp tụt dần theo tháng nghĩa là cánh mòn hoặc ống bám cặn; áp tăng bất thường nghĩa là tuyến bị nghẹt.
Ghi lại áp lúc mới lắp CM50-200/11 để có mốc so sánh về sau.
Bảo trì định kỳ
Trước mỗi lần chạy lại sau thời gian dừng dài, quay trục bằng tay và mồi lại nước. Trục kẹt do cặn khô là hỏng hóc hay gặp khi máy nghỉ lâu.
Nếu tuyến ống đã cạn, phải mồi đầy trước khi cấp nguồn 3 pha / 380V / 50Hz.
- Hàng tháng: kiểm tra rò rỉ và độ rung.
- Mỗi quý: đo dòng và áp trên ống đẩy.
- Mỗi năm: kiểm tra vòng bi, bổ sung hoặc thay mỡ.
Áp giảm dần trong khi dòng không đổi là dấu hiệu cánh mòn hoặc vòng mòn hở.
Vật liệu và kết cấu
Bơm trục ngang chạy liên tục nên chi tiết mòn nhanh nhất là phớt trục và vòng mòn quanh cánh. Vật liệu ghi trên bảng của CM50-200/11 là Thân bơm: Gang G20 Trục bơm: Inox 304 Cánh quạt: Gang Phớt cơ khí: gốm/ graphite.
Khe hở vòng mòn tăng dần làm nước hồi lưu trong buồng, và lưu lượng tụt dần khỏi dải 24 – 72 m³/h dù dòng điện không đổi.
Vật liệu của CM50-200/11 theo bảng: Thân bơm: Gang G20 Trục bơm: Inox 304 Cánh quạt: Gang Phớt cơ khí: gốm/ graphite.
Phần tiếp xúc trực tiếp với nước quyết định máy dùng được cho môi trường nào. Nước sạch thì gang đủ bền; nước có hoá chất nhẹ hoặc nước biển pha loãng thì phần tiếp xúc bằng inox có lợi hơn hẳn.
Đặt hàng và tư vấn kỹ thuật
Hàng có sẵn kho với số lượng lớn, đơn chốt trong ngày giao trong ngày. Báo giá CM50-200/11 là giá chưa gồm VAT, xin liên hệ hotline 0869.391.254 (Zalo: Mr Hiếu) để nhận thông tin chi tiết.
Văn phòng TP Hồ Chí Minh: 484/5 Khu phố 62, Phường An Phú Đông, Thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng Hà Nội: Ngõ 196 Thạch Bàn – Long Biên – Hà Nội.


